Lý Bí và Nhà nước Vạn Xuân

Lý Bí sinh năm 503, quê ở huyện Thái Bình, có lúc làm việc cho chính quyền đô hộ khi nhận một chức quan nhỏ ở Cửu Đức, Đức Châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh).
Một thời gian ngắn, với lòng yêu nước, thương dân, bất bình với bè lũ đô hộ, ông liên kết với hào kiệt các châu thuộc miền đất Giao Châu (tức Việt Nam xưa) nổi dậy chống Lương.
Sau những giờ phút kinh hoàng buổi đầu, chính quyền nhà Lương lập tức phản ứng đối phó. Tháng 4 năm 542, vua Lương sai các võ tướng là Trần Hầu, Nịnh Cư, Lý Trí và Nguyễn Hán, từ 2 phía bắc nam Giao Châu cùng tiến đánh nghĩa quân Lý Bí. Tuy nhiên, cuộc phản kích này của giặc Lương cũng thất bại. Nghĩa quân thắng lớn và vẫn nắm quyền làm chủ đất nước. Từ đồng bằng Bắc bộ, Lý Bí đã kiểm soát được tới vùng Đức Châu (Hà Tĩnh) ở phía nam và vùng bán đảo Hợp Phố ở phía bắc. Trải qua nhiều thắng lợi ở cả hai chiến trường biên giới Bắc, Nam, vào tháng Giêng năm 544, Lý Bí cho dựng lên một nước mới, với quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Ông cũng chính là người Việt Nam đầu tiên tự xưng mình là hoàng đế. Tiếp theo còn cho bãi bỏ chính sóc (lịch) của Trung Quốc, đặt cho Vạn Xuân và triều đại mới một niên hiệu riêng là Đại Đức, quyết định đúc đồng tiền riêng… Điều đó nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vững chắc ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập, là sự ngang nhiên phủ định quyền làm “bá chủ toàn thiên hạ” của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực và là sự khẳng định dứt khoát rằng, nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết giành quyền làm chủ vận mệnh của mình.
Đến đầu năm 545, nhà Lương bắt đầu tái tổ chức cuộc xâm lược Vạn Xuân nhằm chinh phục lại châu Giao, vốn là “thuộc quốc” cũ. Lúc này, tướng Dương Phiêu được cử làm Thứ sử châu Giao, Trần Bá Tiên được cử làm Tư mã Giao Châu, lĩnh thái thú Vũ Bình, cùng thực hiện cuộc chinh phục Vạn Xuân. Lúc này, quân Vạn Xuân có khoảng vài vạn người giữ thành ở cửa sông Tô Lịch, cùng chiến đấu chống giặc. Cục diện cố thủ của Lý Nam Đế ở thành Gia Ninh kéo dài trong suốt mùa khô năm 545. Sang tháng 2 năm 546, quân vũ dũng của Trần Bá Tiên, có hậu quân Dương Phiêu phối hợp, bao vây và công phá, cuối cùng đã hạ được thành Gia Ninh, song may mắn Lý Nam Đế cùng một số binh tướng đã thoát chạy được vào Tân Xương (miền đồi núi Vĩnh Phú trên lưu vực sông Lô). Sau một thời gian chỉnh đốn lại lực lượng, đến tháng 10 năm 546, Lý Nam Đế lại kéo quân từ trong núi rừng ra hạ thủy trại ở vùng hồ Điển Triệt, thuộc xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú, nằm bên bờ sông Lô, cách Bạch Hạc khoảng 15km về phía bắc. Tuy nhiên, những trận mưa lũ cuối mùa đã khiến cho nước sông Lô đột nhiên lên to, tràn vào vùng chằm ao và ruộng trũng, nước ngập tràn, chảy như rót vào hồ, thuyền lớn có thể đi lại tha hồ mà khu căn cứ nghĩa quân trở thành một vùng cô đảo giữa biển nước mênh mông… Lợi dụng nước lớn, Trần Bá Tiên xua chiến thuyền xông trận, tiến vào Điển Triệt. Lý Nam Đế và nghĩa quân bị địch tập kết bất ngờ, không kịp phòng bị, trở tay và cuối cùng không sao chống đỡ nổi. Đây cũng là trận đánh lớn cuối cùng của Lý Nam Đế. Bởi sau lần thất bại này, ông phải vào nương náu trong động Khuất Lão (Tam Nông, Vĩnh Phú). Khoảng 2 năm sau ông mất vì bệnh (năm 548) tuy nhiên cuộc kháng chiến chống ách Bắc thuộc của người Việt sau đó được tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Triệu Quang Phục, một tướng cũ của Lý Bí với căn cứ khởi nghĩa tại đầm Dạ Trạch.

(Nguồn: Báo Bình Dương)
Thảo luận của bạn đọc

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *